THI THỬ LẦN 2 - CHUYÊN SƯ PHẠM 2025 (Có đáp án)
- Cho các số dương $a, b$. Chứng minh rằng: $\dfrac{a}{a+1} + \dfrac{b}{b+2} < \dfrac{\sqrt{a} + \sqrt{b}}{2}$.
- Trong một khu vườn nhỏ có $3$ con thỏ và $3$ cây cà rốt. Mỗi con thỏ sẽ chọn ngẫu nhiên một cây cà rốt để ăn. Tính xác suất để mỗi cây cà rốt được chọn bởi không quá một con thỏ (tức là không có hai con thỏ nào chọn cùng một cây cà rốt).
- Ta có $\begin{aligned}[t]
&a+1 = (\sqrt{a}-1)^2 + 2\sqrt{a} \ge 2\sqrt{a}
&b+2 > b+1 = (\sqrt{b}-1)^2 + 2\sqrt{b} \ge 2\sqrt{b}
\end{aligned}$
Vậy $\dfrac{a}{a+1} + \dfrac{b}{b+2} \lt \dfrac{a}{2\sqrt{a}} + \dfrac{b}{2\sqrt{b}} = \dfrac{\sqrt{a} + \sqrt{b}}{2}$.
- Mỗi con thỏ sẽ có $3$ cách chọn cây cà rốt. Vậy số phần tử của không gian mẫu là $3^3$.
Số cách chọn để mỗi cây cà rốt được chọn bởi không quá một cây cà rốt là $3!$.
Vậy xác suất để mỗi cây cà rốt được chọn bởi đúng một thỏ là $\dfrac{3!}{3^3} = \dfrac{2}{9}$.
- Giải hệ phương trình: $\begin{cases} (x+y)(x^2+y^2) = 567 \\ \sqrt{xy}(x+y)^2 = 243. \end{cases}$
- Cho các số hữu tỉ dương $a, b, c$ thỏa mãn điều kiện $a + b + c = 2\sqrt{abc}$. Chứng minh rằng $S = \dfrac{bc-b-c}{a}$ là bình phương của một số hữu tỉ.
- ĐKXD: $xy \ge 0$.
- Viết lại giả thiết thành $\left(1 - \sqrt{\dfrac{bc}{a}}\right)^2 = \dfrac{bc-b-c}{a}$.
Đặt $a = x+y, b = \sqrt{xy}$. Khi đó $x^2 + y^2 = a^2 - 2b^2$
Viết lại hệ phương trình đã cho thành $\begin{cases} a(a^2 - 2b^2) = 567 \\ a^2b = 243 \end{cases}$
Suy ra $\dfrac{a(a^2 - 2b^2)}{a^2b} = \dfrac{7}{3}$ hay $3a^3 - 6ab^2 = 7a^2b$.
Phân tích thành nhân tử được $b(a-3b)(3a+2b) = 0$
Từ hệ phương trình ban đầu suy ra $a, b > 0$. Vậy $b(3a+2b) > 0$, cho nên $a = 3b$. Từ đó $a^2b = 9b^3 = 243$ hay $b=3, a=9$. Vậy $\begin{cases} x+y = 9 \\ xy = 9 \end{cases}$
Giải ra nghiệm của hệ là $(x,y) = \left(\dfrac{9+3\sqrt{5}}{2}, \dfrac{9-3\sqrt{5}}{2}\right)$ và $(x,y) = \left(\dfrac{9-3\sqrt{5}}{2}, \dfrac{9+3\sqrt{5}}{2}\right)$ đều thỏa mãn.
Do $\sqrt{abc} \in \mathbb{Q}$ nên $\sqrt{\dfrac{bc}{a}} = \dfrac{\sqrt{abc}}{a} \in \mathbb{Q}$.
Vậy $1 - \sqrt{\dfrac{bc}{a}} \in \mathbb{Q}$ nên $S$ là bình phương của một số hữu tỉ.
- $\triangle KEC \backsim \triangle KFB$ và $KD$ là phân giác của góc $\angle BKC$.
- $AP \perp BC$.
- $IQ$ là tiếp tuyến của đường tròn ngoại tiếp tam giác $IBC$.
- Ta có $\angle KBF = \angle KCE$ và $\angle BFK = 180^\circ - \angle KFA = 180^\circ - \angle KEA = \angle KEC$.
- Gọi $AI$ cắt $(O)$ tại điểm thứ hai là $M$. Từ câu a) suy ra $K, D, M$ thẳng hàng.
- Do tứ giác $AKBC$ nội tiếp nên $QK.QA = QB.QC$.
Vậy $\triangle KEC \sim \triangle KFB$ (g-g)
Suy ra $\dfrac{KB}{KC} = \dfrac{BF}{CE} = \dfrac{BD}{DC}$ nên $KD$ là phân giác $\angle BKC$.
Khi đó $\angle PID = 90^\circ - \angle DKC - \angle KCD = 90^\circ - \angle FAI - \angle KAF = \angle KPA$
Suy ra $AP \parallel ID$. Mà $ID \perp BC$ nên $AP \perp BC$.
Ta có $\angle QKI = \angle QDI = 90^\circ$ nên tứ giác $QKID$ nội tiếp.
Suy ra $\angle KIQ = \angle KDQ = 90^\circ - \angle PDI = 90^\circ - \angle KPA = \angle KAI$
Suy ra $IQ$ là tiếp tuyến tại $I$ của đường tròn đường kính $AI$.
Từ đó suy ra $QI^2 = QA.QK = QB.QC$
Suy ra $IQ$ cũng là tiếp tuyến của đường tròn ngoại tiếp tam giác $BIC$.
- Có vô số số thiếu thốn.
- $N = 6 \cdot 2^n$ là số giàu có với mọi số nguyên dương $n$.
- Xét các số có dạng $2^n$ ($n \in \mathbb{N}^*$) Tổng các ước của nó là $$1 + 2 + 2^2 + \dots + 2^n = 2^{n+1} - 1 \lt 2 \cdot 2^n$$
- $N = 2^{n+1} \cdot 3$ có tập các ước là $\{1, 2, 2^2, \dots, 2^{n+1}, 3, 3 \cdot 2, 3 \cdot 2^2, \dots, 3 \cdot 2^{n+1}\}$.
Do vậy các số có dạng $2^n$ đều là các số thiếu thốn. Vậy có vô số số thiếu thốn.
Tổng các ước của $N$ là $(1+3)(1+2+2^2+ \dots + 2^{n+1}) = 4(2^{n+2}-1) > 2N$
Do vậy $N$ là số giàu có.
Khi thay hai số $a, b$ thành $a+b, a-b$ thì tổng bình phương ban đầu và lúc sau của $2$ số là $a^2 + b^2$ và $2a^2 + 2b^2$. Tức là sau mỗi lượt di chuyển, tổng bình phương các số tăng gấp đôi.
Với số nguyên $a$, xét tính đồng dư của $a^2$ theo modulo $8$. Nếu $a$ chẵn thì $a^2 \equiv 0, 4 \pmod 8$ còn nếu $a$ lẻ thì $a^2 \equiv 1 \pmod 8$.
Vậy tổng bình phương của $1000$ số nguyên liên tiếp sẽ đồng dư với $250 \cdot 4 + 500 \cdot 1 \equiv 4 \pmod 8$.
Sau mỗi bước di chuyển, do tổng bình phương các số tăng gấp đôi nên tổng bình phương của chúng luôn chia hết cho $8$. Do vậy trên bảng sẽ không thể xuất hiện lại $1000$ số nguyên liên tiếp.
